VietNamSI.orgDiễn đàn tiếng Việt về trí tuệ tổng quát
Doanh nghiệp và hệ sinh thái

Đại học và doanh nghiệp bắt tay về trí tuệ máy: vì sao khó?

Hợp tác giữa đại học và doanh nghiệp về trí tuệ máy hay vướng ở bốn chỗ: nhịp làm việc khác nhau, dữ liệu không chia được, chưa rõ ai sở hữu kết quả, và sinh viên bị dùng như lao động rẻ. Gỡ được bốn chỗ đó thì hai bên cùng có lợi.

Sinh viên và kỹ sư nhà máy cùng xem bộ cảm biến mẫu trong phòng thí nghiệm ở Cần Thơ

Hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp về trí tuệ máy hay vướng ở bốn chỗ: hai bên làm việc theo nhịp khác nhau, doanh nghiệp không dám đưa dữ liệu, không ai nói rõ kết quả thuộc về ai, và sinh viên đôi khi bị dùng như lao động rẻ thay vì được học. Bốn chỗ này gỡ được nếu được nói ra ngay từ đầu, trước khi ký biên bản ghi nhớ.

Trên giấy, hai bên rất hợp nhau. Trường có giảng viên, sinh viên, thời gian nghiên cứu; doanh nghiệp có bài toán thật, dữ liệu thật, tiền. Một nhà máy chế biến thuỷ sản cần đếm, phân loại sản phẩm bằng camera; một khoa kỹ thuật ở Cần Thơ có nhóm sinh viên đang muốn làm đồ án thị giác máy tính. Nghe như ghép cặp hoàn hảo.

Thực tế, nhiều cuộc hợp tác dừng ở lễ ký kết hoặc một đồ án tốt nghiệp nằm trong tủ. Bài này nhìn vào những lý do cụ thể, không đổ lỗi cho bên nào, và gợi ý cách làm để hợp tác đi được xa hơn một học kỳ.

Hai nhịp làm việc khác nhau

Doanh nghiệp đo thời gian bằng tuần và quý. Một vấn đề trên dây chuyền cần giải trong tháng này, vì mỗi tháng chậm là tiền. Trường đại học đo thời gian bằng học kỳ và năm học. Sinh viên làm đồ án trong một học kỳ, rồi tốt nghiệp, rồi đi. Giảng viên có lịch dạy, lịch chấm, lịch hội đồng.

Khi hai nhịp này không được bàn trước, cảnh quen thuộc là doanh nghiệp hỏi "khi nào xong", nhóm nghiên cứu trả lời "cuối kỳ", doanh nghiệp nghe thấy quá lâu, còn nhóm nghiên cứu thấy bị hối. Tới cuối kỳ, kết quả là một mô hình chạy được trong phòng thí nghiệm nhưng chưa ai đưa lên dây chuyền, vì phần đó cần người làm tiếp mà sinh viên đã ra trường.

Cách gỡ là chia dự án thành nấc nhỏ khớp với học kỳ, và có người phía doanh nghiệp nhận bàn giao sau mỗi nấc. Nấc đầu có thể chỉ là gom và gán nhãn dữ liệu. Nấc sau là mô hình thử. Nấc sau nữa mới là chạy thử trên dây chuyền. Mỗi nấc có kết quả dùng được, không phải chờ hết dự án mới có thứ để xem.

Một cách nữa là để kỹ sư của doanh nghiệp ngồi cùng nhóm sinh viên định kỳ, không chỉ đến buổi báo cáo. Người hiểu dây chuyền chỉ ra trong năm phút những điều sinh viên mất cả tháng mới tự phát hiện, như ánh đèn nhà xưởng đổi theo ca, hay băng chuyền rung làm ảnh nhoè.

Dữ liệu và quyền sở hữu: hai câu nên hỏi đầu tiên

Dữ liệu là chỗ doanh nghiệp e ngại nhất. Ảnh sản phẩm, số liệu sản xuất, thông tin khách hàng có thể lộ bí mật kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp đồng ý hợp tác rồi chần chừ mãi không giao dữ liệu, dự án chết từ trong trứng.

Có vài cách giảm e ngại. Dữ liệu ở lại trong máy của doanh nghiệp, nhóm nghiên cứu làm việc tại chỗ. Dữ liệu được làm mờ những phần nhạy cảm trước khi giao. Có thoả thuận bảo mật rõ ràng, ghi ai được xem, xem ở đâu, xoá khi nào. Những điều này nghe hành chính nhưng chính chúng làm doanh nghiệp yên tâm mở cửa.

Câu thứ hai là ai sở hữu kết quả. Mô hình huấn luyện trên dữ liệu doanh nghiệp, bằng công sức của giảng viên và sinh viên, dùng thiết bị của trường. Doanh nghiệp muốn dùng độc quyền. Giảng viên muốn công bố bài báo. Sinh viên muốn đưa vào hồ sơ xin việc. Không nói trước thì lúc có kết quả tốt mới cãi nhau.

Không có công thức chung, nhưng có những thoả thuận phổ biến: doanh nghiệp được quyền dùng kết quả cho sản xuất của mình, nhóm nghiên cứu được công bố phương pháp sau khi bỏ dữ liệu nhạy cảm và sau một khoảng thời gian thống nhất, sinh viên được ghi tên và mô tả công việc trong hồ sơ. Viết ra một trang giấy từ đầu rẻ hơn nhiều so với cãi nhau sau.

Sinh viên: được học hay bị dùng?

Có người hướng dẫn thật từ cả hai phía. Giảng viên lo phương pháp, kỹ sư lo bài toán.

Việc giao có giá trị học tập. Gán nhãn dữ liệu cả học kỳ mà không làm gì khác là lao động, không phải học.

Có thù lao hoặc hỗ trợ hợp lý. Nhất là khi kết quả được doanh nghiệp dùng thật.

Được ghi nhận đóng góp. Tên trong báo cáo, thư xác nhận công việc.

Được biết dữ liệu nào là nhạy cảm. Và được dạy cách giữ.

Không phải ký cam kết bất lợi. Như cấm làm cho ngành đó nhiều năm sau khi ra trường.

Được trình bày kết quả. Trước kỹ sư, quản lý của doanh nghiệp.

Được thấy sản phẩm chạy thật. Nếu có, mời sinh viên xuống xưởng xem.

Có đường đi tiếp. Thực tập, việc làm, hoặc đề tài cao học.

Được phép thất bại. Một hướng không thành cũng là kết quả học tập.

Không bị giao việc ngoài phạm vi. Như sửa máy tính văn phòng cho doanh nghiệp.

Doanh nghiệp được gì nếu làm đúng

Một lời giải được thử trên bài toán thật. Với chi phí thấp hơn thuê ngoài trọn gói.

Hiểu rõ hơn bài toán của chính mình. Việc gom dữ liệu tự nó đã chỉ ra nhiều điều.

Nguồn tuyển dụng. Sinh viên đã quen dây chuyền, quen dữ liệu.

Quan hệ lâu dài với nhóm nghiên cứu. Có người để hỏi khi gặp vấn đề mới.

Cập nhật phương pháp mới. Giảng viên theo dõi tài liệu nghiên cứu.

Uy tín với địa phương. Doanh nghiệp góp phần đào tạo người tại chỗ.

Cơ hội tiếp cận nguồn hỗ trợ nghiên cứu. Một số chương trình ưu tiên dự án có cả trường và doanh nghiệp.

Kỹ sư trong nhà được học thêm. Làm cùng nhóm nghiên cứu là một kiểu đào tạo.

Đánh giá trung lập về công nghệ. Trường không bán sản phẩm nên ý kiến khách quan hơn.

Nền tảng cho bước đầu tư lớn hơn. Biết thử nhỏ thành công rồi mới bỏ tiền lớn.

Dữ liệu được sắp xếp gọn gàng. Tài sản dùng được cho nhiều việc sau này.

Trường đại học cần thay đổi gì

Ghi nhận công sức hợp tác doanh nghiệp. Trong đánh giá giảng viên, không chỉ tính bài báo.

Quy trình hợp đồng nhanh hơn. Doanh nghiệp nhỏ không chờ được vài tháng.

Mẫu thoả thuận sẵn. Về dữ liệu, sở hữu kết quả, sinh viên.

Đầu mối liên hệ rõ ràng. Doanh nghiệp biết gõ cửa phòng nào.

Linh hoạt đề tài đồ án. Cho phép đồ án nối tiếp giữa các khoá.

Hạ tầng tính toán cho sinh viên. Máy đủ mạnh để thử mô hình.

Học phần về dữ liệu và đạo đức. Sinh viên biết giữ dữ liệu của đối tác.

Mời kỹ sư doanh nghiệp giảng dạy. Một vài buổi mỗi kỳ.

Theo dõi kết quả sau hợp tác. Bao nhiêu dự án được dùng thật.

Chia sẻ giữa các trường. Trường ở Cần Thơ, Hải Phòng học được kinh nghiệm của nhau.

Chọn bài toán địa phương. Nông nghiệp, thuỷ sản, cảng biển, chế biến, chứ không chỉ bài toán phổ biến trên mạng.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp nhỏ có hợp tác với trường được không?

Được, và thường hợp hơn doanh nghiệp lớn vì bài toán gọn và quyết định nhanh. Nên bắt đầu bằng một đồ án sinh viên có kỹ sư theo dõi, chi phí thấp.

Ai nên đứng ra kết nối hai bên?

Phòng hợp tác của trường, hiệp hội doanh nghiệp địa phương, hoặc một giảng viên có quan hệ với ngành. Quan trọng là có người theo tới cùng, không chỉ giới thiệu rồi để đó.

Kết quả đồ án sinh viên có dùng thật được không?

Đôi khi được, nhưng thường cần thêm một bước kỹ thuật để chạy ổn định. Doanh nghiệp nên tính trước ai làm bước đó.

Giảng viên có được công bố kết quả không?

Nên thoả thuận từ đầu. Cách phổ biến là công bố phương pháp, bỏ dữ liệu nhạy cảm, sau một khoảng thời gian hai bên đồng ý.

Hợp tác thế nào thì sinh viên được lợi nhất?

Khi sinh viên làm bài toán thật, có người hướng dẫn từ cả hai phía, được ghi nhận và thấy kết quả của mình được dùng. Đó là kiểu kinh nghiệm khó học được ở lớp.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.