Bệnh án, phim chụp, kết quả xét nghiệm là nguồn rất quý để dạy máy hỗ trợ chẩn đoán: đọc phim phổi, phát hiện sớm dấu hiệu bệnh võng mạc ở người tiểu đường, nhắc bác sĩ những tương tác thuốc dễ bỏ sót. Đồng thời, đây là loại dữ liệu nhạy cảm nhất của một con người. Lộ một chẩn đoán có thể khiến người ta mất việc, bị kỳ thị, gia đình tan vỡ.
Vì thế câu hỏi không phải là "có nên dùng hay không" mà là "dùng với điều kiện gì". Ba điều kiện thường được nhắc tới: ẩn danh làm cho kỹ, người bệnh được biết và được chọn, và giới hạn rõ ai được dùng dữ liệu vào việc gì. Bài này đi qua từng điều kiện, chỗ nào làm được, chỗ nào còn khó, để người bệnh và người nhà biết mình nên hỏi gì.
Vì sao bệnh án hấp dẫn và vì sao đáng lo
Một bác sĩ chẩn đoán hình ảnh giỏi đã đọc hàng chục nghìn phim trong đời làm nghề. Máy có thể "đọc" số lượng gấp nhiều lần chỉ trong thời gian ngắn, nếu được cho xem. Ở những nơi thiếu bác sĩ chuyên khoa, như bệnh viện tuyến huyện, một hệ thống hỗ trợ đọc phim có thể giúp phát hiện ca nghi ngờ để chuyển lên tuyến trên sớm hơn. Lợi ích đó là thật, và nhiều người bệnh sẵn lòng góp dữ liệu nếu được hỏi tử tế.
Mặt đáng lo nằm ở tính chất của dữ liệu. Số điện thoại bị lộ thì đổi số. Mật khẩu bị lộ thì đổi mật khẩu. Một chẩn đoán HIV, một lần điều trị tâm thần, một lần phá thai thì không đổi được. Ở cộng đồng nhỏ như một xóm, một khu tập thể, chỉ cần vài chi tiết là người ta đoán ra ai.
Lo thứ hai là dữ liệu đi xa hơn mục đích ban đầu. Bệnh viện chia sẻ cho nhóm nghiên cứu để làm hệ thống đọc phim, nhóm nghiên cứu hợp tác với một công ty, công ty bán sản phẩm và dùng lại dữ liệu để làm thêm sản phẩm khác. Mỗi bước có vẻ hợp lý, nhưng người bệnh ban đầu chỉ đồng ý cho một việc.
Lo thứ ba ít được nhắc: hệ thống học từ bệnh án của một nhóm người sẽ giỏi với nhóm đó và kém với nhóm khác. Nếu dữ liệu chủ yếu đến từ bệnh viện lớn ở thành phố, máy có thể kém chính xác với bệnh nhân vùng cao, nơi bệnh cảnh và điều kiện chụp chiếu khác hẳn.
Ẩn danh làm được tới đâu
Xoá thông tin định danh trực tiếp. Tên, số căn cước, số điện thoại, địa chỉ, số bảo hiểm là những thứ đầu tiên phải bỏ; đây là bước dễ.
Chữ in trên phim chụp. Nhiều phim X-quang, phim cắt lớp in sẵn tên và ngày sinh ngay trên ảnh; phải xoá cả phần chữ trong ảnh chứ không chỉ trong tệp kèm.
Ghi chú tự do của bác sĩ. Dòng ghi "bệnh nhân là giáo viên trường X, chồng làm ở chợ Y" làm hỏng mọi nỗ lực ẩn danh; khó lọc tự động.
Ngày tháng chính xác. Ngày nhập viện, ngày sinh đầy đủ kết hợp với nơi ở có thể đủ để nhận ra một người; thường được làm mờ thành tháng hoặc khoảng tuổi.
Bệnh hiếm. Một ca bệnh hiếm ở một tỉnh nhỏ gần như tự định danh; dữ liệu loại này cần cách bảo vệ riêng.
Ảnh khuôn mặt. Phim chụp đầu, ảnh da liễu, ảnh nội soi vùng mặt có thể tái tạo được khuôn mặt; ẩn danh rất khó.
Ghép với dữ liệu khác. Một bộ dữ liệu ẩn danh đứng riêng thì an toàn, nhưng ghép với dữ liệu mạng xã hội, bảo hiểm có thể lần ra người.
Dữ liệu gen. Thông tin di truyền vốn là định danh và còn tiết lộ cả về người thân; gần như không thể ẩn danh hoàn toàn.
Mã hoá thay vì xoá. Thay tên bằng mã giúp nối dữ liệu qua nhiều lần khám mà không lộ tên; bảng đối chiếu mã phải giữ tách riêng, rất ít người được mở.
Xử lý tại chỗ. Thay vì gửi dữ liệu đi, mang máy học tới bệnh viện và chỉ đem kết quả ra; giảm rủi ro đáng kể nhưng tốn công tổ chức hơn.
Kiểm tra lại sau ẩn danh. Nên có người thử cố nhận ra bệnh nhân từ bộ dữ liệu đã ẩn danh; nhận ra được là phải làm lại.
Nói thật về giới hạn. Ẩn danh giảm rủi ro, không xoá rủi ro; nói "ẩn danh hoàn toàn" là hứa quá mức.
Đồng ý thế nào mới là đồng ý thật
Ở nhiều nơi khám bệnh, người bệnh ký rất nhiều giấy tờ lúc nhập viện, trong tâm trạng lo lắng, đứng chen ở quầy. Một dòng chữ nhỏ "đồng ý cho sử dụng thông tin vào mục đích nghiên cứu" lẫn trong đó không thể coi là đồng ý có hiểu biết. Một bác bán vé số ở Quận 8 vào viện vì đau ngực sẽ ký mọi thứ được đưa cho, miễn là được khám nhanh.
Đồng ý thật cần vài điều kiện: được nói bằng lời dễ hiểu dữ liệu dùng vào việc gì, ai được dùng, trong bao lâu; được từ chối mà không ảnh hưởng tới việc chữa bệnh; và được hỏi vào lúc bình tĩnh, không phải lúc đang cấp cứu. Với trẻ em, người mất năng lực hành vi, cần thêm sự đồng ý của người giám hộ.
Có ý kiến cho rằng xin đồng ý từng người cho từng nghiên cứu là bất khả thi với kho dữ liệu lớn tích luỹ nhiều năm, và nếu quá khắt khe thì không làm được hệ thống nào giúp ích cho chính người bệnh. Một số nơi dùng cách "đồng ý rộng" cho cả loại nghiên cứu, kèm hội đồng đạo đức xét duyệt từng dự án cụ thể. Phía thận trọng thì cho rằng đồng ý rộng dễ thành tấm séc khống.
Một cách cân bằng đang được bàn nhiều: người bệnh được chọn theo từng mức, chẳng hạn chỉ cho nghiên cứu công, hay cho cả sản phẩm thương mại, và có thể đổi ý về sau qua một kênh đơn giản. Cách này tốn công thiết kế, nhưng tôn trọng người bệnh hơn một ô đánh dấu duy nhất.
Người bệnh và người nhà có quyền hỏi thẳng: "Thông tin của mình có được dùng để làm nghiên cứu hay dạy máy không, và mình có từ chối được không". Một cơ sở y tế đàng hoàng sẽ trả lời được câu đó.
Giới hạn mà bệnh viện nên đặt khi chia sẻ dữ liệu
Một mục đích cho một lần chia sẻ. Dữ liệu cho dự án đọc phim phổi thì không tự động dùng cho dự án khác.
Hợp đồng cấm tái định danh. Bên nhận cam kết không cố tìm ra danh tính bệnh nhân, vi phạm thì có chế tài.
Không bán lại. Bên nhận không được chuyển tiếp hay bán dữ liệu cho bên thứ ba.
Thời hạn và xoá. Hết dự án thì xoá dữ liệu, có biên bản xác nhận.
Chia sẻ tối thiểu. Chỉ đưa những trường thông tin dự án thật sự cần, không đưa cả bệnh án.
Hội đồng đạo đức duyệt. Dự án có dùng dữ liệu người bệnh nên qua hội đồng có cả người ngoài ngành y.
Ghi nhật ký truy cập. Biết ai đã mở dữ liệu, khi nào, để kiểm tra khi có nghi vấn.
Kiểm tra độ chính xác theo nhóm. Hệ thống làm ra phải được thử trên nhiều nhóm bệnh nhân, không chỉ nhóm có nhiều dữ liệu.
Chia lợi ích về bệnh viện. Bệnh viện góp dữ liệu nên được dùng sản phẩm với điều kiện ưu đãi, người bệnh của họ được hưởng lợi trước.
Công bố danh sách dự án. Người bệnh có thể tra xem bệnh viện đã chia sẻ dữ liệu cho những dự án nào.
Có kênh khiếu nại. Người bệnh thấy dữ liệu bị dùng sai có chỗ để phản ánh và được trả lời.
Người bệnh và người nhà nên hỏi gì
Dữ liệu của mình có được dùng ngoài việc chữa bệnh không? Câu hỏi mở đầu, nên hỏi lúc làm thủ tục hoặc hỏi bác sĩ điều trị.
Nếu có, dùng cho ai và việc gì? Nghiên cứu trong bệnh viện khác với chuyển cho công ty làm sản phẩm.
Từ chối thì có ảnh hưởng gì tới việc khám chữa không? Câu trả lời đúng phải là không.
Thông tin được ẩn danh thế nào? Không cần hiểu kỹ thuật, chỉ cần nghe họ có quy trình rõ ràng hay không.
Sau này đổi ý được không? Hỏi kênh để rút lại, dù dữ liệu đã dùng cho lần huấn luyện cũ có thể không gỡ được.
Ai trong bệnh viện chịu trách nhiệm về dữ liệu? Biết tên phòng ban phụ trách để liên hệ khi cần.
Ứng dụng đặt khám có chia dữ liệu cho bên khác không? Ứng dụng của bên thứ ba có điều khoản riêng, cần đọc riêng.
Kết quả máy đọc có bác sĩ xem lại không? Máy hỗ trợ, bác sĩ quyết định; nên biết chẩn đoán của mình có người chịu trách nhiệm.
Ảnh chụp tổn thương có bị dùng để dạy học không? Ảnh da liễu, vết thương thường được dùng giảng dạy; người bệnh có quyền được hỏi trước.
Con mình tham gia nghiên cứu thì sao? Trẻ em cần sự đồng ý của cha mẹ, và trẻ lớn nên được giải thích để tự bày tỏ.
Có giấy tờ gì để giữ lại? Xin bản sao giấy đồng ý đã ký để biết mình đã cho phép những gì.
Câu hỏi thường gặp
Ẩn danh rồi thì bệnh án có hoàn toàn an toàn không?
Không hoàn toàn. Ẩn danh giảm rủi ro rất nhiều, nhưng với bệnh hiếm, ảnh vùng mặt hay khi ghép với dữ liệu khác, vẫn có khả năng nhận ra người. Vì vậy cần thêm hợp đồng cấm tái định danh và giới hạn người được truy cập.
Từ chối cho dùng dữ liệu có bị khám chậm hay kém đi không?
Theo nguyên tắc đạo đức y khoa, việc từ chối góp dữ liệu nghiên cứu không được ảnh hưởng tới việc khám chữa. Nếu gặp tình huống bị gây khó, người bệnh có quyền phản ánh với lãnh đạo bệnh viện.
Máy đọc phim có thay được bác sĩ không?
Hiện nay máy chủ yếu hỗ trợ: đánh dấu chỗ nghi ngờ, sắp xếp ca cần đọc trước. Quyết định chẩn đoán và điều trị vẫn thuộc về bác sĩ, người chịu trách nhiệm chuyên môn.
Vì sao hệ thống học từ bệnh viện thành phố có thể kém ở vùng sâu?
Vì bệnh cảnh, máy chụp và điều kiện chụp ở mỗi nơi khác nhau. Máy chỉ giỏi với kiểu dữ liệu nó đã thấy nhiều, nên cần thử nghiệm trên dữ liệu của nhiều vùng trước khi dùng rộng.
Dữ liệu gen có ẩn danh được không?
Gần như không thể ẩn danh hoàn toàn, vì thông tin di truyền tự nó đã đặc trưng cho từng người và còn tiết lộ về họ hàng. Loại dữ liệu này cần mức bảo vệ và đồng ý chặt hơn bệnh án thông thường.