VietNamSI.orgDiễn đàn tiếng Việt về trí tuệ tổng quát
SI và giáo dục

Học sinh vùng khó có bị bỏ lại khi trí tuệ máy vào lớp?

Có nguy cơ, và khoảng cách không chỉ nằm ở thiết bị. Nó có ba lớp: máy và mạng, ngôn ngữ, và người hướng dẫn. Làm đúng thì trí tuệ máy có thể bù chỗ thiếu giáo viên; làm sai thì nó nới rộng khoảng cách đã có.

Thầy giáo xem vở học sinh trong lớp học nhỏ ở huyện miền núi A Lưới, Huế

Có nguy cơ thật, và khoảng cách không chỉ nằm ở chuyện có máy hay không. Nó có ba lớp chồng lên nhau: thiết bị và đường truyền; ngôn ngữ, vì máy thường giỏi tiếng Việt phổ thông và tiếng Anh hơn tiếng mẹ đẻ của nhiều em; và người hướng dẫn, vì một công cụ mạnh trong tay đứa trẻ không ai chỉ cách dùng thì dễ thành công cụ chép bài. Làm đúng, trí tuệ máy có thể bù một phần chỗ thiếu giáo viên ở điểm trường lẻ. Làm sai, nó nới rộng khoảng cách vốn đã có.

Câu hỏi này đáng bàn ở cấp chính sách vì mọi lợi ích mà người ta hứa hẹn cho trí tuệ máy trong giáo dục, kèm riêng từng em, giải thích không mệt mỏi, ra bài luyện vô hạn, đều có điều kiện. Ai đáp ứng được điều kiện thì được lợi. Ai không đáp ứng được thì đứng nguyên chỗ, trong khi người khác đi tiếp.

Ba lớp khoảng cách, không chỉ một

Lớp thứ nhất dễ thấy nhất: thiết bị và mạng. Ở thành phố, nhiều em có điện thoại riêng, nhà có wifi. Ở thôn bản xa, có nhà cả gia đình dùng chung một điện thoại, sóng chập chờn, mùa mưa có khi mất điện. Một bài tập yêu cầu dùng công cụ trực tuyến ở nhà là bài tập mà một phần học sinh không làm được, dù muốn.

Lớp thứ hai ít ai nhắc: ngôn ngữ. Các mô hình ngôn ngữ lớn học từ lượng chữ viết khổng lồ, mà chữ viết bằng tiếng Việt phổ thông nhiều hơn rất nhiều so với chữ viết bằng tiếng của các dân tộc thiểu số. Hệ quả là máy thường hiểu kém hoặc không hiểu những gì một em nhỏ hỏi bằng tiếng mẹ đẻ, đúng ở giai đoạn em còn đang chuyển dần sang học bằng tiếng Việt.

Lớp thứ ba quyết định nhất: người hướng dẫn. Cùng một công cụ, em có bố mẹ biết hỏi "sao con biết đúng" sẽ dùng khác em mà bố mẹ đi làm ăn xa, ở với ông bà không biết chữ. Thầy cô ở trường đông học sinh, kiêm nhiệm nhiều việc, khó có thời gian ngồi chỉ từng em. Công cụ không tự dạy cách dùng chính nó.

Ba lớp này cộng dồn. Một em vùng khó thường gặp cả ba cùng lúc. Vì vậy chính sách chỉ phát máy tính bảng là giải quyết được một lớp, để nguyên hai lớp kia, và có khi còn làm người ta tưởng đã xong việc.

Một ngày ở điểm trường lẻ: cơ hội và giới hạn

Hình dung một thầy giáo dạy lớp ghép ở điểm trường lẻ vùng núi phía tây Huế. Một phòng học, hai trình độ, học sinh phần lớn là người dân tộc thiểu số. Thầy dạy nhóm này thì nhóm kia làm bài. Em nào vướng phải chờ. Em nào xong sớm thì ngồi không.

Ở đây trí tuệ máy có thể giúp thật. Một máy tính ở góc lớp, có nội dung tải sẵn để dùng khi mất mạng, cho em xong sớm luyện thêm, cho em vướng nghe giải thích lại lần thứ ba mà không ngại. Thầy dùng máy để soạn nhanh bài luyện phân hoá, đỡ thức khuya chép tay.

Nhưng giới hạn cũng rõ. Máy không biết em nào hôm nay đói vì nhà hết gạo, em nào nghỉ học vì phải lên rẫy với bố mẹ. Máy không đến từng nhà vận động em bỏ học quay lại lớp. Phần việc đó là của thầy, và đó là phần quyết định em có còn đi học hay không.

Một điều nữa: nếu nội dung trên máy toàn ví dụ về tàu điện, siêu thị, căn hộ chung cư, các em sẽ thấy việc học xa lạ với đời mình. Nội dung tốt cho vùng khó cần ví dụ về nương rẫy, con suối, phiên chợ, và cần người địa phương tham gia làm ra nó.

Bức tranh chung là: máy có thể giảm bớt gánh cho thầy ở điểm trường lẻ, nhưng chỉ khi thầy được tập huấn, có thiết bị chạy được khi mất mạng, và có nội dung gần với đời các em. Thiếu một trong ba thì máy nằm góc lớp phủ bụi.

Những cơ hội thật nếu làm đúng

Kèm riêng cho em học chậm. Máy giải thích lại nhiều lần, không cáu, không làm em xấu hổ trước bạn.

Bài luyện phân hoá cho lớp ghép. Thầy soạn nhanh bài cho từng trình độ trong cùng một phòng.

Nội dung tải sẵn dùng khi mất mạng. Thiết bị có bài học lưu sẵn tránh được chuyện sóng yếu, mất điện ngắn.

Hỗ trợ chuyển ngữ ở lớp đầu cấp. Nếu có công cụ đủ tốt cho tiếng dân tộc, đây là cầu nối giúp em theo kịp tiếng Việt. Hiện điều này chưa chắc và cần được kiểm thử kỹ.

Thầy cô được bồi dưỡng từ xa. Thầy ở điểm trường lẻ hỏi về phương pháp, về nội dung mà không phải đi xa.

Học sinh lớn tự học thêm. Em trung học ở bán trú có thể ôn bài buổi tối với nội dung có định hướng.

Đọc to cho em chưa đọc thạo. Công cụ đọc thành tiếng giúp em vừa nghe vừa nhìn chữ.

Giảm việc giấy tờ cho thầy. Soạn báo cáo nhanh hơn để thầy có thêm giờ với học sinh.

Mở cửa sổ ra thế giới. Em hỏi được về nghề, về nơi xa, những thứ người lớn quanh em chưa trả lời được.

Hỗ trợ học sinh khuyết tật. Chuyển giọng nói thành chữ, chữ thành giọng nói cho em khiếm thính, khiếm thị.

Phụ huynh hỏi được về việc học của con. Nếu công cụ nói được ngôn ngữ của phụ huynh, cha mẹ có thể hiểu con học gì.

Những cách làm dễ nới rộng khoảng cách

Giao bài bắt buộc dùng công cụ trực tuyến ở nhà. Em không có máy, không có mạng bị trừ điểm vì hoàn cảnh chứ không vì năng lực.

Phát thiết bị mà không tập huấn. Máy nằm trong tủ khoá vì sợ hỏng, hoặc được dùng để xem phim.

Nội dung chỉ có ví dụ đô thị. Học sinh thấy bài học không nói về đời mình, mất hứng.

Coi máy là giáo viên thay thế. Dùng máy để biện minh cho việc không tuyển đủ thầy cô ở vùng khó.

Đánh giá chung một thước đo. So điểm học sinh vùng khó với thành phố mà không tính khác biệt về điều kiện.

Bỏ qua tiếng mẹ đẻ. Ép em chỉ dùng tiếng Việt với máy khi em chưa vững, em im lặng và bỏ cuộc.

Chỉ thí điểm ở trường có điều kiện. Kết quả đẹp rồi nhân rộng sang nơi khác hẳn, thất bại mà không ai hiểu vì sao.

Không tính chi phí duy trì. Thiết bị hỏng, hết hạn phần mềm, không ai có tiền sửa.

Thu dữ liệu học sinh không rõ ràng. Học sinh vùng khó và phụ huynh ít khi biết hỏi dữ liệu con mình đi đâu.

Đo thành công bằng số máy phát ra. Con số thiết bị không nói gì về việc em có học tốt hơn không.

Không hỏi thầy cô tại chỗ. Người đứng lớp ở vùng khó biết rõ nhất cái gì chạy được, cái gì không.

Câu hỏi chính sách cần bàn

Ai trả tiền hạ tầng? Thiết bị, đường truyền, điện ổn định cho điểm trường lẻ là chi phí lâu dài, không chỉ một lần mua.

Ai làm nội dung cho vùng khó? Cần nội dung gần đời các em, có người địa phương và giáo viên vùng khó tham gia.

Ai đầu tư cho tiếng dân tộc? Thị trường ít có động lực làm công cụ cho ngôn ngữ ít người dùng. Đây là chỗ cần vai trò cộng đồng và nhà nước.

Đo hiệu quả bằng gì? Tỉ lệ đi học đều, khả năng đọc hiểu, chứ không phải số giờ dùng máy.

Dữ liệu học sinh được bảo vệ thế nào? Trẻ em vùng khó cần được bảo vệ ít nhất ngang trẻ em thành phố.

Giáo viên vùng khó được hỗ trợ gì? Tập huấn, thời gian, phụ cấp cho việc học cách dùng công cụ mới.

Trường nội trú, bán trú dùng ra sao? Đây là nơi học sinh ở lâu, có thể tổ chức tự học buổi tối có định hướng.

Có nên đặt mức tối thiểu chung? Ví dụ mỗi điểm trường có ít nhất một thiết bị chạy được khi mất mạng. Mức cụ thể cần bàn.

Khi nào thì dừng? Thí điểm không hiệu quả cần có cơ chế dừng và rút kinh nghiệm, không cố kéo dài.

Phụ huynh được tham gia thế nào? Họp thôn, họp bản là kênh tốt để giải thích và nghe ý kiến.

Doanh nghiệp đóng góp ra sao? Tặng thiết bị là tốt, nhưng cần đi kèm cam kết bảo trì và không thu dữ liệu học sinh.

Câu hỏi thường gặp

Phát máy tính bảng cho học sinh vùng khó có giải quyết được vấn đề không?

Giải quyết được một phần, phần thiết bị. Không có đường truyền, nội dung phù hợp và người hướng dẫn thì máy dễ bị bỏ xó hoặc dùng sai mục đích. Phát máy nên là một bước trong kế hoạch, không phải toàn bộ kế hoạch.

Trí tuệ máy có hiểu tiếng dân tộc thiểu số không?

Phần lớn công cụ hiện nay hiểu kém hoặc không hiểu, vì có rất ít chữ viết bằng các ngôn ngữ này để máy học. Có những nỗ lực làm công cụ cho ngôn ngữ ít người dùng ở nhiều nơi, nhưng muốn dùng trong lớp cần kiểm thử kỹ với người bản ngữ.

Học sinh vùng khó có lợi thế gì không?

Có. Các em thường giỏi quan sát thiên nhiên, làm việc tay, sống cộng đồng, những thứ máy không làm thay được. Chương trình tốt biết dựa vào những thế mạnh đó thay vì chỉ nhìn chỗ thiếu.

Thầy cô vùng khó có nên tự dùng trí tuệ máy để soạn bài?

Nên, nếu được hướng dẫn và nhớ kiểm tra lại. Thầy cô vùng khó thường kiêm nhiều việc, máy giúp tiết kiệm thời gian soạn để dành cho học sinh. Chỉ cần tránh đưa thông tin riêng của học sinh vào công cụ.

Người dân có thể góp ý cho chính sách này ở đâu?

Qua họp phụ huynh, ban đại diện cha mẹ học sinh, các buổi lấy ý kiến của địa phương và các diễn đàn công dân như nơi này. Tiếng nói của phụ huynh và thầy cô vùng khó thường ít được nghe nhất nên càng cần được nói ra.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.